25 lượt xem

Nguy cơ từ nhóm vi khuẩn không phải lao – Một vấn đề toàn cầu hiện nay

Tháng 05/2021, tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, các bác sĩ đã tiếp nhận một trường hợp với tổn thương da là các nodule phân bố thành dải ở chân và tay, rất dễ nhầm lẫn với các bệnh da như nhiễm nấm sâu, điều trị không phù hợp dẫn tới bệnh lan tỏa.

Nguồn gốc từ đâu?

Mycobacterium abscessus thuộc nhóm vi khuẩn mycobacteria không gây bệnh lao hay thường gọi là lao không điển hình với đặc trưng phát triển nhanh, đa kháng thuốc, rất phổ biến trong đất, nước và đặc biệt các hạt bụi.

M. abscessus được phân lập lần đầu tiên vào năm 1953, được công nhận là một loài riêng biệt vào năm 1992. Đây là vi khuẩn gram dương, không di dộng, ưa axit, dài khoảng 1-6 µm, rộng 0,2-0,5 µm. M. abscessus có họ hàng xa với những khuẩn gây bệnh lao và bệnh phong. Các phân tích về gen cho thấy vi khuẩn có khả năng sống nội bào trong môi trường và nguồn nước ô nhiễm. Do đó, vi khuẩn được biết đến với khả năng dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua da và phổi để gây bệnh, đặc biệt gây ô nhiễm thuốc và các thiết bị y tế.

Xu hướng gia tăng tại nhiều khu vực

Nhiễm trùng các bệnh lý do vi khuẩn Mycobacterium không điển hình nói chung và M. abscessus nói riêng đang có xu hướng gia tăng tại nhiều quốc gia, khu vực. Tỉ lệ bệnh do Mycobacterium không điển hình là 1-1,8 trường hợp trên 100.000 người, trong đó, M. abscessus chiếm từ 5-20% tổng số.

Ở Hàn Quốc, M. abscessus là căn nguyên thứ hai xếp sau M. avium về tỉ lệ phát hiện bệnh trên lâm sàng.

Ở Đài Loan, trong số các trường hợp nhiễm trùng do Mycobacterium không điển hình tại phổi, M. abscessus chiếm tỉ lệ 17,2% tương ứng 1,7 trường hợp trên 100.000 người.

Tại Thái Lan, M. abscessus là căn nguyên gây nhiễm trùng da phổ biến nhất với tỉ lệ 61,4%.

Hình ảnh tổn thương da ở bệnh nhân. Nguồn: BS. Trần Cẩm Vân, tháng 05/2021.

Trong thời gian gần đây, các đợt bùng phát thường liên quan đến bệnh viện và phòng khám. Các thủ thuật thẩm mỹ như phẫu thuật, hút mỡ, mesotherapy,… được thực hiện tại các cơ sở không đủ điều kiện vô trùng được cho làm gia tăng nguồn lây lan bệnh. Bên cạnh đó, với đặc tính kháng cồn, kháng toan, vi khuẩn khó bị diệt bởi các chất khử khuẩn thông thường, dẫn đến nguồn lây lan từ dụng cụ phẫu thuật.

Đa kháng thuốc

Năm 2013, dựa trên dữ liệu giải trình tự gen, các nhà khoa học đã tách loài thành 3 dưới nhóm nhưng vẫn được gọi dưới tên chung phức hợp M. abscessusbao gồm: dưới nhóm abscessus, dưới nhóm boletti và dưới nhóm massiliense. Người ta phát hiện, M. abscessus dưới nhóm abscessus và bolletti mang gen kháng kháng sinh erm, còn dưới nhóm massiliense không có gen này.

Phức hợp M. abscessus có khả năng đa kháng thuốc: tỉ lệ kháng clarithromycin lên tới 38%, cefoxitin 15,1%, amikacin 7,7%, doxycyclin, quinolon và imipemen cũng có những dữ liệu về kháng thuốc.

Các cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn còn rất phức tạp. Bản thân vi khuẩn có khả năng kháng nội tại dựa trên đặc tính thẩm thấu của thành tế bào. Vi khuẩn cũng có khả năng thích nghi với điều kiện môi trường, dễ dàng thay đổi sự biểu hiện gen và protein liên quan đến các loại thuốc cụ thể.

Phát hiện và điều trị như thế nào?

Biểu hiện lâm sàng do nhiễm trùng M. abscessus rất đa dạng bao gồm: bệnh phổi tương tự như bệnh lao, nhiễm trùng da và mô mềm, nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm trùng mắt và các bệnh nhiễm trùng khác.

Khác với các loài Mycobacterium không điển hình khác, M. abscessus thường được phát hiện ở tổn thương da và mô mềm. Biểu hiện tại da rất đa dạng, từ các nốt trên da (thường mềm), các sẩn hoặc mảng đỏ, đến mụn mủ hoặc áp xe. Hai cơ chế chính liên quan đến bệnh bao gồm: một là sự tiếp xúc trực tiếp với vật liệu hoặc nước bị ô nhiễm qua chấn thương, vết thương phẫu thuật hoặc tiếp xúc với môi trường; hai là biểu hiện thứ phát trong quá trình bệnh lan tỏa. Các nguồn gây bệnh da đã được phát hiện bao gồm spa, suối nước nóng, sau các thủ thuật thẩm mỹ như mesotherapy, sau xăm mình và châm cứu.

Mặc dù hiếm gặp hơn, nhiễm khuẩn huyết do M. abscessus tại bệnh viện thường có liên quan đến việc sử dụng catheter tĩnh mạch trung tâm, đặc biệt ở những bệnh nhân ung thư đa hóa trị liệu. Ngoài ra, nhiễm trùng vết mổ do M. abscessus cũng được báo cáo. Đa số các trường hợp nhiễm khuẩn huyết đều xảy ra ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch hoặc có bệnh lý mạn tính trước đó.

Chẩn đoán xác định nhiễm trùng do M. abscessus chủ yếu vẫn dựa vào nuôi cấy và PCR giải trình tự gen. Phương pháp PCR từ bệnh phẩm cho kết quả nhanh, giúp xác định loài tuy nhiên tỉ lệ dương tính thấp. Nuôi cấy định danh là tiêu chuẩn vàng, vừa giúp khẳng định chủng vi khuẩn gây bệnh, vừa có thể thực hiện kháng sinh đồ, giúp cho các bác sĩ lâm sàng lựa chọn kháng sinh phù hợp.

Cho đến nay, phương pháp điều trị M. abscessus là phối hợp nhiều loại kháng sinh khác nhau. liệu pháp kháng sinh kết hợp ban đầu với macrolid cộng với các thuốc tiêm tĩnh mạch trong ít nhất 2 tuần đến vài tháng, sau đó duy trì bằng macrolide đường uống. Các loại thuốc được lựa chọn để tiêm tĩnh mạch ban đầu là amikacin kết hợp với cefoxitin hoặc amikacin kết hợp với imipenem. Tuy nhiên, lựa chọn kháng sinh vẫn cần dựa vào kết quả kháng sinh đồ.

TS.BS Trần Cẩm Vân

(Bệnh viện Da liễu Trung ương)